Không ngừng hoàn thiện hành lang pháp lý về BHYT ở nước ta

Thứ tư - 09/08/2017 03:27
Trong thực tế cuộc sống, con người luôn có nhu cầu chính đáng được bảo vệ, chăm lo sức khỏe những lúc ốm đau. Một cơ chế chia sẻ rủi ro mang tính xã hội được thực hiện trên diện rộng với sự đảm bảo chắc chắn từ phía Nhà nước trở thành một nhu cầu tất yếu khách quan trong đời sống xã hội. 30 năm trước, Đảng đã chủ trương phát triển BHYT và thực hiện BHYT toàn dân. Đó là quan điểm nhất quán của Đảng ta xuyên suốt thời kỳ đổi mới đất nước, bảo đảm sự công bằng trong khám, chữa bệnh cho nhân dân.
Không ngừng hoàn thiện hành lang pháp lý về BHYT ở nước ta

Thể chế hóa các quan điểm của Đảng về BHYT trong thời kỳ đổi mới, từ năm 1992, Hiến pháp quy định: “Thực hiện BHYT tạo điều kiện để mọi người dân được chăm sóc sức khỏe” (Điều 39) - Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc triển khai thực hiện chính sách BHYT.

  Chính sách BHYT của Việt Nam được bắt đầu thực hiện từ năm 1992. Ngày 15/08/1992, Chính phủ ban hành Điều lệ BHYT kèm theo Nghị định 299/HĐBT. Từ khi ra đời Điều lệ BHYT đầu tiên, nhiều nghị định và các thông tư hướng dẫn mới đã được ban hành nhằm điều chỉnh, sửa đổi chính sách BHYT, thể hiện sự quan tâm của Nhà nước trong việc phát triển BHYT.

  Chính sách BHYT của nước ta đã qua 03 lần sửa đổi, bổ sung thông qua 03 Nghị định của Chính phủ (Nghị định số 47/CP, Nghị định số 58/1998/NĐ-CP, Nghị định số 63/2005/NĐ-CP). Các văn bản sửa đổi, bổ sung trên đã làm cho chính sách BHYT ngày càng phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ của đất nước.

  Thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng, ngày 14/11/2008, Quốc hội ban hành Luật BHYT số 25/2008/QH12. Các quy định, chính sách về BHYT được hệ thống hóa và trở thành các quy định của pháp luật, là cơ sở, tiền đề để phát triển BHYT vì An sinh xã hội một cách khoa học, có lộ trình; trong đó, lộ trình thực hiện BHYT toàn dân đã được quy định rõ ràng. Theo đó, Đề án thực hiện lộ trình BHYT toàn dân đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 29/03/2013 với các bước đi cụ thể, đó là: “Tăng tỷ lệ dân số tham gia BHYT, tiếp tục duy trì các nhóm đối tượng đã tham gia BHYT đạt 100%, mở rộng các nhóm đối tượng để đến năm 2015 trên 70% dân số tham gia BHYT, đến năm 2020 trên 80% dân số tham gia BHYT”. Mục tiêu của Đề án là mở rộng phạm vi bao phủ của BHYT tiến tới BHYT toàn dân nhằm chăm sóc sức khỏe nhân dân theo hướng công bằng, hiệu quả, chất lượng và phát triển bền vững. Đây được xem là sự cam kết chính trị mạnh mẽ trong việc hỗ trợ toàn bộ hoặc một phần mức đóng BHYT đối với người nghèo, cận nghèo, người dân tộc thiểu số, hộ gia đình làm nghề nông, lâm, ngư, diêm nghiệp có mức sống trung bình trở xuống, đối tượng hưởng chính sách ưu đãi xã hội và trợ giúp xã hội. Đây cũng là chính sách bảo đảm an sinh xã hội và là một trong những nhiệm vụ chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ngày 08/05/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 705/QĐ-TTg về việc nâng mức hỗ trợ đóng BHYT cho một số đối tượng thuộc hộ gia đình cận nghèo, bao gồm các ưu đãi về BHYT cho hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo thuộc vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn.

  Luật BHYT ra đời có ý nghĩa quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu khách quan của quá trình phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN và hướng tới BHYT toàn dân, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chính sách xã hội hóa công tác bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân. Nội dung quy định của Luật BHYT đã cơ bản khắc phục vướng mắc, tồn tại trong việc thực hiện chính sách tài chính y tế thông qua BHYT với mục tiêu xây dựng nền y tế Việt Nam theo định hướng công bằng, hiệu quả và phát triển.

  Ngày 13/06/2014 Quốc hội đã thông qua Luật số 46/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT 2008, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2015. Đây là bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện pháp luật về BHYT tại Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai chính sách BHYT, góp phần tích cực, tạo nguồn tài chính cho việc bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.

   Luật BHYT sửa đổi có nhiều điểm mới thể hiện sự hoàn thiện chính sách, pháp luật về BHYT, cụ thể như sau:

  Một là, quy định bắt buộc tham gia BHYT:

  Một điểm mới quan trọng của Luật lần này là quy định bắt buộc tham gia BHYT. Đây là một điểm mới thể hiện quyết tâm chính trị nhằm thúc đẩy thực hiện BHYT toàn dân theo tinh thần của Hiến pháp 2013 và Nghị quyết 21-NQ/TW của Bộ Chính trị.

  Kinh nghiệm quốc tế đã thực hiện BHYT thành công cho thấy, chỉ bắt buộc mới có thể tiến tới BHYT toàn dân. Không có quốc gia nào thực hiện thành công BHYT dựa trên cơ sở tự nguyện. Tính pháp lý của việc bắt buộc này mang ý nghĩa nhân văn, vì lợi ích chăm sóc sức khỏe cho người dân, chia sẻ trách nhiệm với cộng đồng cũng như các quy định bắt buộc tiêm chủng với phụ nữ có thai và trẻ em.

  Để thực hiện mục tiêu này, Luật BHYT quy định bắt buộc cùng với quy định giảm mức đóng, Nhà nước hỗ trợ ngân sách cho một số nhóm đối tượng tham gia BHYT sẽ thúc đẩy mạnh mẽ hơn quá trình mở rộng đối tượng, thực hiện mục tiêu BHYT toàn dân và đảm bảo an sinh xã hội.

  Bên cạnh đó, để đảm bảo tính khả thi và thúc đẩy việc thực hiện chính sách BHYT bắt buộc, Nhà nước phải tăng cường hoạt động tuyên truyền, vận động các đối tượng, bố trí nguồn lực đảm bảo, nâng cao y đức và chất lượng khám, chữa bệnh, đổi mới phương thức thực hiện chính sách BHYT vừa để khuyến khích, vừa hỗ trợ người dân chủ động tham gia BHYT, nâng cao trách nhiệm an sinh đối với bản thân, gia đình mình và xã hội. Nhà nước tổ chức cho người dân có thể tiếp cận và đóng BHYT theo hộ gia đình được thuận lợi tại tất cả các địa bàn trên cả nước.

  Hai là, quy định, khuyến khích tham gia BHYT theo hộ gia đình:

  Điểm mới nữa trong Luật BHYT là quy định khuyến khích tham gia BHYT theo hộ gia đình. Đây là hình thức mà các quốc gia hiện nay đang thực hiện để bao phủ, chăm sóc sức khỏe. Luật BHYT cũ đã quy định việc tham gia BHYT theo hộ gia đình nhưng chưa quy định bắt buộc 100% thành viên phải tham gia, nên tính tuân thủ chưa cao, chỉ có người ốm mới tham gia BHYT, tạo nên tình trạng lựa chọn ngược.

  Để khắc phục tình trạng cấp trùng thẻ BHYT, Luật quy định một số đối tượng tham gia BHYT theo hộ gia đình và quy trách nhiệm của UBND cấp xã lập danh sách các đối tượng tham gia BHYT theo hộ gia đình thay cho quy định các cơ quan, tổ chức, đơn vị lập danh sách tham gia BHYT của các đối tượng theo hình thức cá nhân.

  Bài học sau 03 năm thực hiện BHYT cho thấy quy định tham gia BHYT theo hộ gia đình là một cách rất hiệu quả để tăng mức độ bao phủ BHYT, người dân được hưởng BHYT với những lợi ích rất rõ ràng. Cụ thể, khi tham gia BHYT theo hộ gia đình, người tham gia sẽ được giảm dần mức đóng từ thành viên thứ 02 trở đi. Người thứ 02, 03 trở đi đóng lần lượt bằng 70%, 60%, 50% mức đóng của người thứ nhất. Từ người thứ 05 trở đi mức đóng bằng 40% của người thứ nhất, đảm bảo sự chia sẻ ngay trong hộ gia đình.

  Việc tham gia theo hộ gia đình còn giúp các cơ quan quản lý thực hiện việc đăng ký, quản lý các nhóm đối tượng thống nhất, không bỏ sót và tránh được cấp trùng thẻ BHYT.

  Ba là, bổ sung đối tượng tham gia BHYT:

   Để đảm bảo sự bình đẳng giữa các đối tượng trước pháp luạt và thống nhất việc quản lý, tổ chức thực hiện chính sách BHYT trong hệ thống, Luật đã huy động thêm lực lượng công an, quân đội phải tham gia BHYT và Chính phủ quy định lộ trình tham gia BHYT phù hợp với đặc thù của lực lượng này.

  Cùng đó, Luật cũng bổ sung thêm đối tượng đang sinh sống tại vùng kinh tế-xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn được ngân sách nhà nước mua thẻ BHYT.

  Bốn là, về BHYT đối với trẻ em dưới 06 tuổi:

  Với trẻ dưới 06 tuổi, Luật quy định trẻ dưới 06 tuổi được Quỹ BHYT chi trả cho điều trị lác, cận thị, tật khúc xạ của mắt. Trong trường hợp trẻ đủ 72 tháng chưa đến kỳ nhập học thì thẻ BHYT sẽ có giá trị đến ngày 30/09 của năm đó, tạo điều kiện cho trẻ được chăm sóc sức khỏe đến khi thẻ hết hạn. Luật cũng bổ sung trách nhiệm của UBND xã phải lập danh sách đề nghị cấp thẻ BHYT đồng thời với việc cấp giấy khai sinh cho trẻ.

  Đây là những quy định nhằm tháo gỡ những vướng mắc của Luật cũ liên quan đến thực hiện BHYT của trẻ dưới 06 tuổi và đảm bảo quyền lợi tối đa cho trẻ.

  Năm là, tăng quyền lợi BHYT và mức hưởng BHYT:

  Đây là quy định nhằm giảm gánh nặng chi phí khám, chữa bệnh, tăng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế với một số đối tượng như người có công, người nghèo, người dân tộc thiểu số, người thuộc diện bảo trợ xã hội… nhất là với những người mắc bệnh nặng, bệnh mạn tính (chạy thận nhân tạo chu kỳ, ung thư, bệnh nội tiết,…) do không có khả năng chi trả cũng như tính phức tạp trong việc tổ chức thực hiện. Luật sửa đổi quan tâm nhiều đến quyền lợi của người tham gia BHYT như: bỏ quy định cùng chi trả 5% với người nghèo, dân tộc thiểu số đang sinh sống vùng ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; bỏ quy định cùng chi trả 20% với thân nhân người có công là cha mẹ đẻ, hoặc vợ/chồng, con của liệt sĩ, người có công nuôi dưỡng liệt sĩ; giảm mức cùng chi trả từ 20% xuống còn 5% với thân nhân của người có công khác và người cận nghèo.

  Luật lần này cũng quy định Quỹ BHYT thanh toán 100% chi phí khám, chữa bệnh khi người bệnh có thời gian tham gia BHYT từ 05 năm liên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả trong năm lớn hơn 06 tháng lương cơ sở, trừ trường hợp tự đi khám, chữa bệnh (tương đương với khoảng 07 triệu). Đây là quy định hết sức mới để bảo vệ, hỗ trợ người bệnh trước rủi ro tài chính.

  Luật còn bổ sung quy định Quỹ BHYT thanh toán trong các trường hợp tự tử, tự gây thương tích, tai nạn giao thông, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

  Sáu là, mở thông tuyến khám, chữa bệnh BHYT:

  Đây là quy định hết sức quan trọng tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người tham gia BHYT trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế. Cụ thể là mở thông tuyến giữa xã, huyện trên cùng địa bàn tỉnh cho người tham gia BHYT. Với người thuộc hộ gia đình nghèo, người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng khó khăn, đặc biệt, huyện đảo, xã đảo có cơ chế được mở thông tuyến khám, chữa bệnh từ xã, huyện, tỉnh lên Trung ương trên phạm vi cả nước. Từ 01/01/2021 mở thông tuyến tỉnh trên toàn quốc và nâng mức hưởng đối với người tham gia BHYT tự đi điều trị nội trú tại tuyến tỉnh và Trung ương.

  Cũng từ 01/01/2015, trường hợp tự đi khám, chữa bệnh tại bệnh viện tuyến huyện sẽ được Quỹ BHYT chi trả 70% chi phí khám, chữa bệnh và đến năm 2016, sẽ được chi trả 100% chi phí khám, chữa bệnh trong cùng địa bàn tỉnh; tại bệnh viện tuyến tỉnh, từ 01/01/2015, Quỹ BHYT chi trả 60% chi phí điều trị nội trú và đến 1/1/2021 là 100%; tại bệnh viện tuyến Trung ương là 40% chi phí điều trị nội trú.

  Như vậy, trải qua gần 30 năm phát triển BHYT, hệ thống chính sách, pháp luật về BHYT đã từng bước được hoàn thiện phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, phù hợp với tiến trình đổi mới đất nước, góp phần đảm bảo công bằng trong chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. 

Tài liệu tham khảo

  1. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (1999), Các quy định pháp luật về BHYT.
  2. Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1989), Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân ngày 30/6/1989
  3. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006) Luật BHXH, số 71/2006/QH11 ngày 29/06/2006.
  4. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2008), Luật BHYT, số 25/2008/QH12 ngày 14/11/2008.
  5. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014), Luật BHYT (sửa đổi, bổ sung), số 46/2014/QH13 ngày 13/06/2014./

Tác giả bài viết: Tạp chí BHXH

  • Những tin mới hơn
  • Những tin cũ hơn
Thăm dò

Mức độ hài lòng của bạn khi làm việc với cơ quan BHXH ?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây